Vào một ngày mùa đông đầu năm 2025, sau khi kết thúc công việc ở văn phòng, tôi rời công ty để trở về nhà như thường lệ. Hôm ấy, vì muốn tiết kiệm chi phí đi lại, tôi dự định chọn xe buýt thay vì gọi xe như mọi khi. Theo chỉ dẫn trên bản đồ, tôi đi đến một điểm được đánh dấu là trạm xe buýt, cách nơi làm việc không xa.
Thế nhưng sau gần ba mươi phút đứng chờ, tôi vẫn không thấy chuyến xe nào. Không gian xung quanh lúc ấy khá vắng, trời đã tối, ánh đèn đường ở xa chỉ đủ le lói chứ không chiếu tới nơi tôi đứng. Sau một ngày làm việc dài, cảm giác mệt mỏi bắt đầu hiện rõ: Đôi vai tôi dần trở nên nặng trĩu lạ thường, đôi chân chùng xuống vì mỏi khiến sự kiên nhẫn của tôi giảm đi đáng kể.
Tôi bắt đầu thấy khó chịu nơi vai phải, thoạt đầu chỉ nghĩ đơn giản là do đeo túi quá lâu. Nhưng càng đứng chờ, cảm giác ấy càng hiện rõ hơn: một sức nặng khó lý giải như đang đè xuống vai, khiến cơ thể tôi rã rời thấy rõ. Giữa không gian vắng lặng của buổi tối, một luồng ớn lạnh bất chợt chạy dọc sống lưng, làm lòng tôi dấy lên cảm giác bất an mơ hồ. Cuối cùng, vì quá mệt, tôi quyết định gọi xe về nhà, tự nhủ rằng hôm nay dù tốn kém hơn một chút cũng không sao.
Tối hôm đó, khi đã về đến nhà, tôi bất ngờ nhận được cuộc gọi hỏi thăm từ một Kim Cương Hữu lâu ngày không gặp. Chúng tôi trò chuyện khá lâu, chia sẻ với nhau những câu chuyện tu học thường ngày.
Giữa cuộc trò chuyện, người bạn ấy bỗng hỏi:
— Chị đang ở đâu vậy?
Tôi hơi ngạc nhiên vì ngay từ đầu đã nói rằng mình đang ở nhà. Khi nhắc lại điều đó, người bạn đồng tu im lặng vài giây rồi chậm rãi đáp rằng sở dĩ bạn hỏi như vậy là vì trong lúc trò chuyện, bạn cảm nhận như có một người đang đứng rất gần bên cạnh tôi, như thể họ vừa theo tôi từ một nơi nào đó bên ngoài trở về.
Nghe vậy, tôi thoáng bối rối. Suốt cả ngày hôm ấy, ngoài việc đi làm rồi trở về nhà, tôi không thấy có điều gì thực sự khác thường. Tôi kể lại toàn bộ những gì mình vừa trải qua, từ lúc đứng chờ xe buýt cho đến cảm giác nặng trĩu nơi vai phải và cơn ớn lạnh bất chợt chạy dọc sống lưng. Nghe xong, bạn ấy trầm giọng nói rằng có lẽ đó không chỉ đơn thuần là sự mệt mỏi của thân thể. Theo cảm nhận của bạn, dường như có một vong linh đã theo tôi từ nơi ấy trở về, mang theo một mối duyên nghiệp cũ từ nhiều đời trước, đến khi đủ điều kiện thì lại gặp nhau. Bạn nói thêm rằng đó là một người nam còn khá trẻ, thân mang nhiều đau đớn chưa được hóa giải; đặc biệt nơi cánh tay phải dường như chịu thương tổn rất nặng, như thể gần như đã bị đứt lìa.
Khi nghe đến đó, tôi bất giác thấy lạnh dọc sống lưng. Bởi đúng lúc ấy, cơn đau nơi vai phải của tôi lại nhói lên rõ rệt hơn. Tôi đáp rằng từ lúc rời khỏi chỗ vắng kia đến giờ, vai phải đau mãi không giảm, dù đã xoa bóp nhiều lần vẫn không thấy dễ chịu hơn, trong khi chiếc túi ấy tôi vẫn mang mỗi ngày mà trước nay chưa từng xảy ra cảm giác lạ như vậy.
Người bạn đồng tu nhẹ giọng nói rằng đôi khi những cơn đau đến bất thường cũng có thể là một cách để mình chạm vào nỗi khổ của một chúng sinh còn vướng mắc. Vong linh ấy không mang ý xấu, mà chỉ như đang tìm đến một nhân duyên cũ để nương tựa, mong có cơ hội được trợ giúp và nhận sự hồi hướng.
Đến lúc ấy, nỗi bất an mà tôi cố giữ bình tĩnh từ đầu cuộc trò chuyện bỗng hiện rõ hơn trong lòng. Tôi cầm điện thoại đi nhanh lên phòng ngủ, vừa bước vừa tự trấn an mình. Ngoài cửa phòng vẫn dán biểu tượng Kalachakra, trên người tôi luôn mang theo chuỗi tràng hạt, một hũ nhỏ đựng xá lợi Phật cùng vài pháp khí hộ thân khác, nên tự nghĩ chắc cũng không đến mức đáng ngại. Dẫu vậy, khi kéo chăn phủ kín người, tôi vẫn cảm nhận rõ một luồng lạnh chạy dọc sống lưng, không biết vì cái lạnh của đêm xuống hay vì nỗi sợ đang dần len vào tâm trí.
Kết thúc cuộc trò chuyện, tôi nằm yên trong bóng tối nhưng hoàn toàn không sao chợp mắt được. Mỗi lần vừa thiếp đi, tôi lại có cảm giác như chân mình như bị ai đó kéo giật nhẹ, đủ để lập tức tỉnh hẳn. Một cảm giác khó lý giải vẫn lặng lẽ bao quanh, vừa mơ hồ vừa khiến lòng tôi bất an. Những pháp khí vẫn mang bên người khiến tôi phần nào vững tâm, nhưng trong khoảnh khắc ấy, tôi chợt hiểu rằng trước những duyên nghiệp sâu xa, điều có thể nâng đỡ mình nhiều hơn cả vẫn là sự bình an trong tâm và lòng chân thành hồi hướng. Cơn đau nơi vai phải mỗi lúc một nóng rát hơn, như không còn đơn thuần là một cảm giác nhức mỏi thông thường. Trong lòng tôi dấy lên một ý nghĩ mơ hồ rằng nếu thật sự có một chúng sinh nào đó vẫn còn mang theo khổ đau chưa thể buông xuống, thì biết đâu sự mệt mỏi và nặng nề tôi đang cảm nhận lúc này cũng là một cách để tôi chạm đến phần thống khổ ấy bằng sự cảm thông nhiều hơn là sợ hãi.
Khi ấy, tôi bắt đầu ngồi ngay ngắn lại, cố giữ cho tâm mình lắng xuống rồi thành tâm hồi hướng. Tôi lần lượt trì niệm thần chú Lục Tự Đại Minh, tiếp đến là thần chú của Đức Tara. Nếu thật sự có một duyên nghiệp nào đó đang hiện diện quanh mình, mong mỗi âm thanh từ câu chú cất lên trong đêm tĩnh lặng đều có thể trở thành một lời cầu nguyện nhẹ nhàng gửi đến chúng sinh khổ đau đó. Trong lòng tôi chỉ mong mọi đau đớn của họ được dịu lại, những vướng mắc vô hình dần được hóa giải, và nếu đủ nhân duyên thì có thể sớm nương nhờ ánh sáng Tam Bảo mà siêu thoát.
Tuy vậy, càng về khuya, khi cơn đau nơi vai vẫn chưa thuyên giảm và cảm giác nặng nề trong người vẫn còn nguyên, tôi càng nhận ra rằng trước những nghiệp duyên sâu dày vượt ngoài hiểu biết của bản thân, sự cố gắng nhỏ bé của mình dường như vẫn chưa đủ để chuyển hóa trọn vẹn. Sau cùng, tôi chỉ còn biết nhất tâm hướng về Đạo sư, trì niệm thần chú của Ngài với tất cả sự khẩn thiết, tha thiết cầu xin sự gia trì, bởi trong thẳm sâu tôi hiểu rằng có những khổ đau không thể tự mình gỡ mở, mà cần đến năng lực của lòng từ bi lớn mới có thể nâng đỡ và chuyển hóa.
Tôi hơi bối rối khi cảm giác này kéo dài suốt đêm, nên cuối cùng đành nhắn cho thị giả của Đạo sư dù đã rất khuya, bởi tôi biết có những đêm Ngài vẫn thường thức muộn để làm các Phật sự giúp đỡ chúng sinh. Một lúc sau, thị giả nhắn lại hỏi: “Ba giờ sáng rồi, sao giờ này chị còn chưa ngủ?”. Tôi cầm điện thoại khá lâu mà vẫn chưa biết nên diễn đạt thế nào, cuối cùng chỉ đáp khẽ rằng mình đang trì chú, hồi hướng cho một chúng sinh hữu duyên, và xin phép chiều hôm sau được sang Phật viện thỉnh cầu Đạo sư một việc. Không lâu sau đó, qua thị giả, Đạo sư cho biết tôi có thể sang chùa vào chiều hôm sau để gặp Ngài.
Y như đã hẹn, chiều hôm sau tôi có mặt tại Phật viện. Trước khi đi, tôi gọi cho thị giả báo rằng mình đang trên đường sang và xin được thỉnh gặp Đạo sư. Thế nhưng suốt quãng đường ấy, cảm giác nơi vai phải vẫn chưa hề tan đi, trái lại còn âm ỉ như nhắc tôi rằng câu chuyện đêm qua dường như vẫn chưa thực sự khép lại. Trong lòng tôi có một linh cảm rất rõ rằng nỗi khổ đau vô hình ấy vẫn còn quanh quẩn đâu đây, như thể vẫn đang chờ một sự trợ giúp nào đó chưa trọn vẹn.
Càng cảm nhận rõ cơn đau kéo dài nơi thân thể, tôi càng nghĩ đến Đạo sư với một niềm xót xa khó diễn tả. Bởi tôi hiểu, nếu mình chỉ chạm đến một phần rất nhỏ của nỗi đau ấy mà đã thấy nặng nề đến vậy, thì lòng từ bi của bậc Thầy — người luôn mở rộng tâm nguyện tiếp nhận khổ đau của chúng sinh — hẳn còn gánh nhận sâu xa hơn gấp bội. Trong khoảnh khắc ấy, điều hiện lên rõ nhất trong tâm tôi là mười bảy lời nguyện Kim Cang mà Đạo sư đã phát khởi: những đại nguyện mạnh mẽ không chỉ để hộ trì đệ tử, mà còn sẵn sàng nâng đỡ, chuyển hóa và gánh nhận những nghiệp duyên nặng nề của vô số chúng sinh vô hình và hữu hình trên con đường giải thoát.
Nghĩ đến đó, lòng tôi chùng xuống vì thương Ngài vô hạn. Tôi hiểu rằng những đau đớn nơi thân thể mà đôi khi Đạo sư âm thầm chịu đựng không đơn thuần chỉ là biểu hiện của thân tứ đại, mà nhiều khi chính là dấu vết của lòng bi mẫn đang lặng lẽ tiếp nhận phần khổ đau thay cho người khác. Trước một duyên nghiệp vượt ngoài khả năng của mình, tôi biết sức bản thân có hạn; ngoài việc khởi tâm từ bi, trì chú, hồi hướng và thành tâm sám hối cho những duyên nợ sâu xa chưa biết từ đâu, tôi hầu như không còn cách nào khác ngoài quay về nương tựa nơi Đạo sư, tha thiết cầu xin sự bi mẫn từ Ngài.
Nhớ lời Đạo sư dạy, tôi tập trung trì chú và quán tưởng Đạo sư đang ngự trên đỉnh đầu mình và ngự chính nơi tim thì một dòng năng lượng an lành chạy từ luân xa đỉnh đầu xuống các luân xa khác bên dưới. Dòng cam lồ chảy đến đâu cơn đau nhức giảm tới đó. Tôi biết chính sự kết nối tâm thức thầy và trò, dòng samaya mạnh mẽ bằng tín tâm của người đệ tử chính là thứ cam lồ tốt nhất có thể đẩy lùi những đau đớn về thể chất, xua đi những năng lượng xấu đang bức bách xung quanh tôi.
Ngay khi ngồi trong chánh điện, giữa lúc tâm còn chưa hoàn toàn lắng xuống, tôi chợt cảm nhận một sự an ủi rất khó diễn tả, như thể dù không trực tiếp diện kiến, sự gia trì của Đạo sư vẫn đang hiện diện rất gần bên mình. Cảm giác ấy đến nhẹ nhưng rõ, đủ để làm dịu bớt phần nào nỗi bồn chồn vẫn còn đọng lại từ đêm trước. Trong dòng quán tưởng khi trì chú, hình ảnh Đức Tara hiện lên trong tâm tôi một cách đặc biệt rõ ràng: gương mặt ngài chứa đầy sự bi mẫn, và nơi khóe mắt ngài lặng lẽ rơi xuống hai hàng lệ, như đang rửa sạch những chướng nghiệp vô hình không chỉ nơi bản thân tôi mà còn lan rộng đến những nhân duyên từ nhiều đời kiếp. Trong Khoảnh khắc ấy, tôi có cảm giác mọi thứ đang dần được thanh tịnh lại trong một tầng sâu mà lý trí khó có thể cắt nghĩa được.
Chiều hôm ấy tôi vẫn không trực tiếp gặp được Đạo sư, nhưng trong lòng không còn cảm giác thiếu vắng. Tôi hiểu rằng sự hiện diện của bậc Thầy không nhất thiết phải là một cuộc gặp mặt trực tiếp; nhiều khi chính trong lúc đệ tử thành tâm trì niệm, giữ tín tâm không gián đoạn, sự gia trì đã âm thầm diễn ra rồi. Và tôi cũng hiểu sâu hơn rằng năng lực ấy chỉ thật sự mạnh khi nơi người đệ tử vẫn giữ được sự kết nối bằng lòng sùng kính không lay chuyển. Vì vậy, tôi tiếp tục trì chú, hồi hướng và thành tâm sám hối, chỉ mong nếu thật sự có một chúng sinh đang còn mang theo khổ đau chưa thể buông xuống, thì nhờ chút thiện duyên này họ có thể sớm nương ánh sáng Tam Bảo mà siêu sinh về cảnh giới lành.
Không lâu sau đó, nhân một dịp cát tường, pháp hội cúng dường Naga được tổ chức và tôi may mắn có đủ nhân duyên tham dự. Hôm ấy, đông đảo các Kim Cương Hữu cùng quy tụ dưới sự chủ trì của Đạo Sư Choje Dongchen Chotrul Rinpoche và chư Lama thuộc dòng truyền thừa Kadampa cổ. Trong không khí trang nghiêm của đàn tràng, tất cả cùng nhất tâm cầu nguyện quốc thái dân an, giáo pháp Kadampa được trường lưu và nguyện cho mọi chúng sinh đều gieo trồng đầy đủ nhân lành để bước vào con đường chánh pháp, hướng tới giải thoát.
Lúc ấy, tôi không quên thành tâm cầu khẩn sự gia trì từ Đạo sư và Tam Bảo, bởi tôi hiểu rằng đây là một dịp hiếm có để tích tập công đức và hồi hướng những điều tốt đẹp nhất đến Phật pháp cũng như tất cả chúng sinh. Ngay sau pháp hội, cơn đau nơi vai tôi hoàn toàn biến mất, nhẹ hẳn như thể chưa từng xuất hiện trước đó. Khi gặp lại vị Kim Cương Hữu từng đồng hành cùng tôi trong câu chuyện này, cô ấy nói rằng không còn cảm nhận thấy vong linh ấy theo bên tôi nữa; có lẽ nhờ thiện duyên và công đức hồi hướng, họ đã được sinh về một cảnh giới tốt đẹp hơn. Nghe được điều đó, tôi cảm thấy an lòng.
Sự vi diệu của Đạo sư Dongchen Rinpoche đời thứ 17 đã được chứng nghiệm ở rất nhiều câu chuyện do chính những đệ tử của Ngài thuật một cách chân thực với lòng biết ơn sâu sắc và tôi cũng vậy. Ai đã từng được Đạo sư cứu giúp sẽ cảm nhận được sự vĩ đại từ lòng từ ái vô lượng mà Ngài dành cho chúng sinh, thương yêu chúng sinh hết mực như cha mẹ thương yêu đứa con độc nhất của mình. Đạo sư Dongchen Rinpoche từng nói:
“Bất cứ khi nào lòng con cảm thấy bất an, đừng ngần ngại hãy nghĩ đến Thầy!
Bất cứ khi nào con hạnh phúc, đừng ngần ngại hãy nghĩ đến Thầy!
Bởi vì trong thế gian này con có thể bị hại bởi bất kỳ thứ gì, nhưng khi con nghĩ đến Thầy, con sẽ nhận được năng lượng an bình và hạnh phúc, năng lượng đó được sinh ra từ Tâm Bi Mẫn mà Thầy đã dày công tích góp trong các đời kiếp, Thầy cũng sẽ đem công đức của Thầy trao tặng đến con như người mẹ đem hết tình thương trao cho đứa con độc nhất”.
(Trích bài giảng “Nương tựa Đạo sư chân thật”)
Trong mỗi lời nguyện Kim Cương mạnh mẽ của Đạo sư, tôi luôn thấy được lòng trắc ẩn, sự Từ bi hiện hữu. Năng lượng từ mẫn ấy cảm hóa mọi đau khổ, xoa dịu những tâm hồn chúng sinh đang còn trắc trở. Con gái 8 tuổi của tôi từng kể trong những giấc mơ cháu thường gặp nhiều việc khiến cháu thấy sợ (ma chướng quấy nhiễu, bạn bè trêu chọc v.v….) nhưng chỉ cần nghĩ tới Đạo sư, quán tưởng hình ảnh của Đạo sư, niệm thần chú Đạo sư thì mọi sự sợ hãi mộng mị đều tan biến. Tôi hiểu thêm rằng niềm tin thanh tịnh cũng hình thành ngay cả với một đứa trẻ còn đang đi học chứ không riêng gì những người lớn như chúng ta. Việc này ứng với Lời nguyện thứ mười Đạo sư đã phát ra:
“Khi tin ta bằng lòng sùng mộ chân chánh và niềm tin trong sạch quy y ta, con nhận được sự gia trì chúc phúc của tất cả Chư Đạo Sư, Bổn Tôn, Hộ Pháp. Ta nguyện dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào khi con trì niệm minh chú của ta thì ta sẽ ngủ dưới hiên nhà để bảo vệ con. Ban ngày trì niệm minh chú ta thì ta sẽ thực hiện oai lực và lòng từ bi của chư Phật lắng nghe và giúp con thành tựu nguyện ước, ban đêm trì niệm minh chú ta thì ta sẽ bảo hộ con từ trong giấc ngủ đều yên ổn. Bất kể lúc nào trì niệm minh chú của ta, ta nguyện gia trì cho con thành tựu ước nguyện”.
Nếu tìm hiểu, hẳn bạn sẽ nhận ra cốt lõi của mọi pháp thành tựu được chính là lấy tâm từ bi rộng lớn làm nền tảng. Ngài căn dặn hàng đệ tử chúng tôi phải luôn tích lũy hai bồ tư lương là Từ bi và Trí tuệ thì mới mong thành tựu giác ngộ. Lời nguyện vì chúng sinh của Ngài cũng xuất phát từ chính tấm lòng bác ái mà Ngài đã dày công vun đắp từ rất nhiều kiếp tái sinh.
“Ta – Đạo sư His Holiness 17th Kadam Kyabyje Choje Dongchen Chotrul Rinpoche (H.H Kadam Narthang Tripa Rinpoche), sẽ vì con – người có tín tâm trong sạch, người có lòng sùng mộ chí thành và thành tâm cầu đạo Giải Thoát mà phát lời nguyện mạnh mẽ không sợ hãi. Dẫu rằng thân ta có mất đi tâm ta luôn ở cùng con, dù ở bất cứ nơi đâu, khi lòng sùng mộ con hướng đến ta chí thành, ta sẽ ở bên cạnh con”. (Trích từ 17 Lời nguyện Kim Cương mạnh mẽ vì lợi lạc của chúng sanh).
Thầy luôn nói với tôi rằng: “Con có Thầy ở trong tâm thì Thầy sẽ luôn ở bên cạnh con bất kể ở đâu, bất kể khi nào”. Điều này khiến tôi vô cùng cảm kích.
Sự vi diệu của Đạo sư His Holiness 17th Kadam Kyabyje Choje Dongchen Chotrul Rinpoche (H.H Kadam Narthang Tripa Rinpoche) còn rất nhiều và nhờ sự tín tâm với bậc Thầy từ mẫn ấy, đã hơn một lần tôi thoát khỏi những nghịch cảnh trớ trêu, những khổ nạn và trắc trở trên con đường tu tập. Những câu chuyện ấy sẽ tiếp tục được chia sẻ nhiều hơn trong thời gian tới để quý đạo hữu cảm nhận được rằng chỉ cần giữ sự nhiệt huyết, tâm kính ái và trung thành với Đạo sư thì phước lành sẽ tới ngay đời này với tất cả chúng sinh như lời nguyện mà Ngài đã phát thệ.
Con đường Mật thừa là con đường một đời thành Phật và bởi vì nó gian nan nên nếu như thực sự có tấm lòng chân thành với Chánh pháp, đức tin với Đạo sư và Tam Bảo thật mạnh mẽ thì mọi thỉnh cầu đều sẽ viên mãn trọn vẹn.
“Con nguyện cầu giáo pháp Phật Đà chân chính luôn trường tồn, luôn được gìn giữ và kế thừa để chúng sinh trong lục đạo luân hồi sẽ luôn thấy được ‘ngọn đèn soi nẻo giác’ mà tìm về đường giác ngộ”.
~Nghiêm Tuệ Mật (Lobsang Yeshe Rigdzin) thuật lại –
Trích trong “Những Điều Vi Diệu Về Đạo sư His Holiness 17th Kadam Kyabyje Choje Dongchen Chotrul Rinpoche (H.H Kadam Narthang Tripa Rinpoche)